Thứ Ba, 09/12/2025 13:59
Tranh dân gian Đông Hồ thuộc phường Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh là một trong bốn dòng tranh dân gian đặc sắc của Việt Nam với những nội dung có giá trị và nghệ thuật độc đáo. Tranh dân gian Đông Hồ trong nhiều thế kỷ qua đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân, đi vào văn chương, thi ca, nhạc, họa, tạo nên bản sắc riêng của văn hóa dân tộc Việt.
Du khách tìm hiểu tranh dân gian Đông Hồ.
Trong các dòng tranh dân gian ở Việt Nam, tranh Đông Hồ thuộc dòng tranh từ ván gỗ khắc gỗ, làm dân làng Đông Hồ sáng tạo, sản xuất và phát triển thành làng nghề. Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, cuộc sống lao động của người nông dân bình bình, chất phác, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người dân Việt. Để có thể thực hiện một bức tranh, ngoài bản vẽ đen chủ đạo, tranh mẫu có bao nhiêu màu thì cần nhiều bản khắc gỗ trong màu tương ứng. Đặc biệt, giấy in là loại giấy dó truyền thống, có quét điệp và màu sử dụng trong tranh được chế độ từ nguồn gốc tự nhiên, như màu vàng của hoa hòe, màu đỏ của hoa hiên, màu trắng từ bột vỏ sò, điệp và màu đen của than tre..., tạo ra mỹ cảm dung giải, độc chuyên.
Dựa vào nội dung chủ đề, có thể chia tranh Đông Hồ thành 7 loại chính, bao gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt.
Quá trình sản xuất tranh có nhiều khâu theo 2 công đoạn chính: Sáng tác mẫu/khắc đoạn và in/vẽ tranh. Sáng tác mẫu tranh và khắc gỗ là khâu lao động sáng tạo, quan trọng, quyết định sự tồn tại của một làng tranh. Nó đòi hỏi ít nhiều năng lực bẩm sinh và kỹ năng lao động cao ở các nghệ nhân. Công việc sáng tác mẫu tranh giá rất nhiều thời gian, trước tiên phải lựa chọn đề tài, ý nghĩa, nội dung sâu sắc, màu sắc hài hòa, bố cục kín và có giá trị nghệ thuật cao. Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực nhỏ để vẽ lên giấy nền móng và Kỹ thuật để người thợ khắc, đục đục theo mẫu. Công việc sáng tạo mẫu tranh không phải là công việc của riêng các nhân viên mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ. Cũng chính vì thế trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều phiên bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có hai, ba cách phân bố màu khác nhau.
Bức tranh Đông Hồ "Đám cưới chuột".
Ván khắc trong tranh có 2 loại: Ván in đậm và ván in màu. Ván in thường được làm từ gỗ thị hoặc gỗ mực. Gỗ thị có thớ đa chiều, vừa mềm, dễ khắc vừa dai, do đó khi khắc gỗ, nghệ nhân có kỹ năng chạm khắc giỏi, sẽ tạo ra các nét mảnh, mảnh, nhỏ, tinh vi và tàn trong phần mềm. Dụng cụ khắc là những mũi đục hay còn gọi là bộ ve, được làm bằng thép cứng. Mỗi bộ có khoảng 30 - 40 Chiếc.
Vật liệu và dụng cụ dùng để tranh bao gồm: giấy dó, các loại màu, ván in, co ván, lá thông. Cách thức trong tranh như sau: trước khi tranh, phải chuẩn bị sẵn giấy in để thành 1 tập (khoảng từ 100 đến 200 tờ ở trước mặt). Khi vào, người ta nhúng thế giới lá thông vào thùng màu để lấy màu, rồi quét đều trên mặt tấm bìa. Phương pháp lấy mực để trong tranh dân gian Đông Hồ theo cách chiến lược, tức là "co" ván dăm đi, bóc lại tấm ốp xuống mặt bìa đã được hoàn thiện màu, để màu mềm dẻo trên bề mặt ván, sau đó đặt ván trong lên giấy tờ định nghĩa trong sao cho cân đối, chính xác, ép mạnh in vào giấy, để có liên kết nhất định, rồi cô gái bên trong có cả thư giấy trong tranh lên; lấy xơ mướp xoa đều lên mặt sau tờ giấy, để cho sản phẩm dưỡng trên mặt mảnh tiếp tục mềm mại trên mặt giấy. Tiếp đó, gỡ bỏ tranh ra khỏi đoạn in, rồi mang tranh ra phơi ở những nơi thoáng mát. Tranh khô rồi mới tiếp tục lần nữa ở các màu khác. Bản đen bao giờ cuối cùng cũng được.
Trước đó, chỉ có nghệ nhân làng Hồ sáng tạo mẫu mới vẽ tranh bằng tay. Các công đoạn khác trong sản xuất tranh dân gian Đông Hồ đều dùng di chuyển in. Ngày nay, người ta còn vẽ tranh theo thức thức khác (ngoài in), đó là tô màu, truyềnn màu trên tranh đã được in tàn trước (theo lối vẽ tranh Hàng Trống) và vẽ tranh trên giấy trắng hoặc giấy màu bồi. Khi vẽ tranh trên giấy đã được đánh bóng, người nghệ nhân chỉ làm việc phân bố màu sắc sao cho hài hoà, hợp lý, có thể xác định nội dung của bức tranh, mà vẫn đạt được giá trị thẩm mỹ.
Du khách quốc tế tham quan Trung tâm Bảo tồn tranh Đông Hồ.
Về giá trị nghệ thuật, so với các dòng tranh khác, tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu tượng, trang trí nhưng vẫn giữ được mịn màng, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ, độcg trong công việc sử dụng đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi sáng trên nền giấy dóróng ánh.
Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh ánh sắc sâu đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân nơi đây. Đó là những bức tranh khắc họa ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các dòng vốn truyền thống văn hoá của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú.
Tranh dân gian Đông Hồ vừa chân chất, gần kín, vừa sâu sắc, sạch lý, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, đến nay đã trở thành thành một sản phẩm văn hóa quý giá của dân tộc. Trong cuộc sống đương đại, tranh dân gian Đông Hồ vẫn có những đóng góp vào sự phát triển chung của mỹ thuật Việt Nam, cung cấp các chủ đề, mô típ, hình thức thể hiện và tạo nguồn cảm hứng cho các nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ trẻ.
Hà Linh